Bài 2: Việt Nam quản lý Hoàng Sa, Trường Sa liên tục và hoà bình

(VOV) – Các tài liệu lịch sử đáng tin cậy cho phép kết luận ngay rằng, từ lâu và liên tục trong hàng mấy trăm năm, Nhà nước Việt Nam đã làm chủ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

  • Trong phần đầu của loạt bài “Chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa nhìn từ công pháp quốc tế, chúng tôi đã đưa ra các dẫn chứng để chúng minh rằng, Việt Nam là quốc gia đầu tiên xác lập chủ quyền ở Hoàng Sa, Trường Sa.

    Có một vấn đề đặt ra là: Việt Nam có tiếp tục làm chủ hai quần đảo này không? Và việc chiếm hữu, khai thác nó của Nhà nước Việt Nam có bao giờ gặp phải sự phản đối của một quốc gia nào khác không?

    Các tài liệu lịch sử của Việt Nam rất nhiều, khớp với các tài liệu nước ngoài đáng tin cậy cho phép kết luận ngay rằng, từ lâu và liên tục trong hàng mấy trăm năm, từ triều đại này đến triều đại khác, Nhà nước Việt Nam đã làm chủ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

    Nhiều bản đồ, tập địa đồ hay sách địa lý nước ta chỉ rõ, cácquần đảo là một bộ phận của nước ta, cụ thể là: Giáp Ngọ Bình Nam Đồ, 1774; Đại Nam Nhất Thống toàn đồ, 1838; Đại Nam Nhất Thống chí, 1882,…

    Sự quản lý thật sự các quần đảo cũng xuất hiện trong nhiều tài liệu khác của Việt Nam. Những tài liệu quan trọng nhất có thể kể ra là: Đại Nam thực lục tiền biên, 1884 và Đại Nam thực lục chính biên, 1848; Đại Nam nhất thống chí, 1882,…

    TS. Trần Công Trục, nguyên Trưởng Ban Biên giới của Chính phủ cho biết, một số tài liệu này có những lời phê bằng mực son, bút tích của nhà vua: “Trong kho lưu trữ ở Huế, chúng ta đã tìm được những bút phê của nhà vua trong việc thành lập đội Hoàng Sa, rồi cử đội này ra Hoàng Sa và Trường Sa, với thời gian cụ thể và cả các quyết định phong chức cho các đội trưởng để chỉ huy ra Hoàng Sa và Trường Sa như Phạm Quang Ảnh, Phạm Hữu Nhật,vv… mà hiện nay các tên tuổi đó được ghi nhận ở một số đảo trên quần đảo Hoàng Sa của chúng ta như đảo Hữu Nhật, Quang Ảnh, Quang Hòa. Chúng ta cũng tìm được các gia phả của các dòng họ ở xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn các văn bản của nhà vua trong việc cử các đinh tráng xung vào đội Hoàng Sa.

    Đây chính là bằng chứng pháp lý để nói rằng, Nhà nước Việt Nam đã thực hiện chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”.

    Nhà nước phong kiến Việt Nam từ lâu đã tổ chức việc khai thác hai quần đảo này. Các biện pháp này thể hiện chính sách quốc gia chú trọng tới các lợi ích biển.

    Trong thế kỷ XVIII, nhà Nguyễn đã thành lập các đội đi biển có tính nhà nước. Tổ chức và hoạt động của chúng được mô tả chi tiết trong cuốn sách của Lê Quý Đôn năm 1776. Các đội này có nhiệm vụ đặc biệt, một số để thu lượm các hải sản tại các đảo gần bờ, số khác để thu lượm các đồ vật từ các tàu bị đắm ở ngoài khơi.

    Điều này cũng được mô tả trong Toản tập Thiên nam chí lộ đồ thư từ thế kỷ XVII: “Họ Nguyễn mỗi năm vào tháng cuối mùa đông đưa 18 chiếc thuyền đến (Bãi Cát Vàng) lấy hoá vật, được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng đạn”.

    Hay trong Đại Nam thực lục tiền biên (1884): “Hồi đầu dựng nước, đặt đội Hoàng Sa gồm 70 người, lấy dân xã An Vĩnh sung vào, hàng năm đến tháng 3 đi thuyền ra đảo, độ ba ngày đêm thì đến, thu lượm hoá vật, đến tháng 8 trở về nộp. Lại có đội Bắc Hải mộ dân ở phường Tứ Chính ở Bình Thuận hoặc xã Cảnh Dương sung vào, được lệnh đi thuyền ra các vùng Bắc Hải, Côn Lôn thu lượm hoá vật. Đội này cũng do đội Hoàng Sa kiêm quản”.

    Trong giai đoạn từ năm 1771 đến năm 1802, lịch sử nước ta được đánh dấu bằng sự đối đầu của các triều đại phong kiến. Khi nhà Nguyễn được khôi phục lại (1802) đến khi ký với Pháp Hiệp ước 1884, các vua nhà Nguyễn ra sức củng cố chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

    Đại Nam thực lục chính biên kể lại, năm 1815, vua Gia Long cử Phạm Quang Ảnh chỉ huy đội Hoàng Sa đi thuyền ra Hoàng Sa để khảo sát và đo đạc đường biển.

    Vua Minh Mạng, năm 1833, đã ra chỉ thị cho Bộ Công phái người tới dựng miếu, lập bia, trồng nhiều cây cối ở Hoàng Sa. Chỉ thị viết: “Ngày sau, cây cối to lớn, xanh tốt, người dễ nhận biết, có thể tránh được nhiều mắc cạn.”

    Năm 1836, vua Minh Mạng tiếp tục thực hiện làm địa bạ toàn quốc. Đại Nam thực lục chính biên ghi lại như sau:“Phải ghi chép mọi việc, mọi chi tiết và tường trình cho trẫm rõ. Khi thuyền đến một nơi nào, một hòn đảo hay một bãi cát, thuyền trưởng phải đo kĩ chiều dài, chiều ngang, chiều cao, chiều sâu, chiều rộng và cả chu vi của hòn đảo hoặc của bãi cát, độ sâu của nước vùng ở xung quanh, dò tìm các bãi đá ngầm, xem đó có nguy hiểm cho tàu bè hay không, khảo sát đất đai, đo đạc và vẽ bản đồ.

    Cùng năm này, vua Minh Mạng sai đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật đưa binh thuyền ra Hoàng Sa đo đạc, vẽ bản đồ và cắm các cọc để đánh dấu những nơi đã kiểm tra. Trên mỗi cọc có ghi dòng chữ: “Năm Minh Mạng thứ 17, năm Bính Thân (1836), thừa hành Hoàng thượng, thủy quân đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật đã ra đây, tại đảo Hoàng Sa để đo đạc địa hình và cắm cọc này để làm dấu tích.

    Bà Monique Chemillier Gendreau, giáo sư công pháp và khoa học chính trị ở Trường Đại học Paris VII Denis Diderot, nguyên Chủ tịch Hội luật gia dân chủ Pháp, nguyên Chủ tịch Hội luật gia châu Âu khẳng định, trong luật quốc tế phân tích, đã có nhiều hoạt động của Nhà nước được thực hiện để xác lập chủ quyền: lập một đội thủy binh riêng, trợ cấp về tài chính cho nó, khai thác nó, thưởng cho nó, quyết định xây dựng các công trình xây dựng trên lãnh thổ, cắm mốc chủ quyền,vv…  Đó là những bằng chứng của chủ quyền theo đúng các quy tắc của luật pháp quốc tế áp dụng vào thời điểm đó: “Các triều đình phong kiến Việt Nam có giấy chứng thực chủ quyền từ thế kỷ XVI, đặc biệt là trong thế kỷ XVIII. Họ đã tổ chức quản lý các quần đảo này thông qua các đội tàu biển. Theo mùa, các đội tàu này đến các đảo để khai thác tài nguyên thiên nhiên và của cải từ xác các con tàu đắm trôi dạt vào. Họ còn dùng nhiều biện pháp như trồng cây để bảo đảm cho các vùng đó bớt nguy hiểm hơn cho các tàu bè qua lại. Người ta đã tìm thấy bằng chứng trong chiếu chỉ của vua Minh Mạng về việc này.

    Trong luật quốc tế, đó là những bằng chứng của chủ quyền.

    GS. André Menras: “Trước đây, ngoài Việt Nam thì không một quốc gia nào, kể cả Trung Quốc thực thi chủ quyền ở các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” (Ảnh: AFP)

    GS. André Menras, Chủ tịch Hiệp hội Phát triển và Trao đổi Sư phạm ở miền Nam nước Pháp khẳng định, ở thời kỳ đó, ngoài Việt Nam thì không một quốc gia nào, kể cả Trung Quốc thực thi chủ quyền ở các quần đảo này: “Tôi đã nghiên cứu rất rõ về lịch sử của Hoàng Sa và Trường Sa thì Việt Nam đã thường xuyên có mặt ở Hoàng Sa. Đội Hoàng Sa hàng năm đi làm nhiệm vụ vừa kinh tế vừa bảo vệ chủ quyền trên quần đảo đó. Trong khi đó, không có một nước nào ra Hoàng Sa, kể cả Trung Quốc. Như vậy, hồ sơ của Việt Nam rất chặt chẽ. Theo những quy định trong Công ước Luật biển năm 1982 thì đó là chủ quyền của Việt Nam.

    Tuy nhiên, có một vấn đề đặt ra là: khi xác lập chủ quyền của mình trên các đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Việt Nam có bị một nước nào phản bác và chống đối hay không? Vì trong công pháp quốc tế thì chủ quyền trên một vùng đất sẽ phải bị xét lại nếu khi vừa xác lập đã bị một hay nhiều nước phản đối.

    Như đã phân tích trong phần trước của loạt bài này, cho đến đầu thế kỷ XVII, các tài liệu của Trung Quốc không cho phép xác định nước này đã xác lập chủ quyền lãnh thổ đối với Hoàng Sa và Trường Sa.

    Vậy thời kỳ sau đó thì sao?

    Bà Monique Chemillier Gendreau, giáo sư công pháp và khoa học chính trị ở Trường Đại học Paris VII Denis Diderot, nguyên Chủ tịch Hội luật gia dân chủ Pháp, nguyên Chủ tịch Hội luật gia châu Âu khẳng định: “Mãi về sau này, Trung Quốc mới có yêu sách về chủ quyền đối với các quần đảo. Đối với Hoàng Sa, Trung Quốc có yêu sách về chủ quyền bắt đầu từ năm 1909. Còn đối với Trường Sa là sau Chiến tranh thế giới thứ hai.

    Trong tất cả các tài liệu của Trung Quốc đều nhắc rằng, các ngư dân nước này đã đến các đảo này hàng ngàn năm nay nhằm chứng minh rằng nhân dân nước này đã “phát hiện” và “khai phá kinh doanh”. Nhưng đó chỉ là những hành vi cá nhân, không có đặc quyền, không phù hợp với một sự chiếm hữu hay ý định khẳng định chủ quyền. Việc chiếm cứ của cá nhân không thể là hành động nhân danh chính phủ của họ, không thể tạo thành một sự chiếm hữu. Hơn nữa, trong cùng thời kỳ này, chính ngư dân Việt Nam cũng hay lui tới các quần đảo đó.

    Trên thực tế, việc chiếm hữu và khai thác của Nhà nước Việt Nam đối với hai quần đảo này không bao giờ gặp phải sự phản đối của một quốc gia nào khác kể cả Trung Quốc.

    Trong các sử liệu Trung Quốc có cả các tài liệu chứng tỏ nước này không hề có một đòi hỏi nào đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ví như Trong Hải lục viết: “Vạn lý Trường Sa là đất nổi giữa biển, dài vài ngàn dặm, là phên dậu của An Nam”. Từ đó ta thấy rằng, Trung Quốc không có các hành vi thực thi chủ quyền mà còn im lặng, đồng tình với sự chiếm hữu của Việt Nam.

    Tướng quân đội Pháp Daniel Schaeffer: Việt Nam có những tài liệu khẳng định quyền của mình từ xa xưa không có nghi ngờ gì đối với các đảo Hoàng Sa

    Tướng quân đội Pháp Daniel Schaeffer, nguyên tùy viên quân sự của Pháp ở Việt Nam, Trung Quốc và Thái Lan, một chuyên gia về các vấn đề an ninh và quốc phòng ở khu vực Đông Á đưa ra kết luận:“Việt Nam và Trung Quốc đã đưa ra các bằng chứng, tài liệu từ thời phong kiến để chứng minh nước nào là nước đầu tiên có hoạt động ở Hoàng Sa. Bằng chứng của Trung Quốc về chủ quyền Hoàng Sa không thuyết phục. Trong khi đó, Việt Nam có những tài liệu khẳng định quyền của mình từ xa xưa không có nghi ngờ gì đối với các đảo Hoàng Sa.”
    Ngoài Trung Quốc, các quốc gia khác có hay không biểu lộ ý định thực thi chủ quyền?
    Câu trả lời là, lúc đó, không có một quốc gia nào khác trong vùng đã đưa ra yêu sách. Thực tế ngày nay cũng cho thấy, không một quốc gia nào có ý định đưa ra yêu sách có từ thế kỷ XIX hay trước đó.
    Cần biết thêm rằng, năm 1898, trong Hiệp ước Paris giữa Tây Ban Nha và Mỹ chuyển giao Philippines. Như vậy, trước khi có Hiệp ước bảo hộ của Pháp năm 1884, Việt Nam đã thực sự chiếm hữu mà không có cạnh tranh trong nhiều thế kỷ đối với các đảo theo đúng chế độ luật pháp của thời kỳ đó.
    Đến đây đặt ra vấn đề củng cố danh nghĩa và nhất là việc duy trì danh nghĩa này liên quan tới tiến triển của luật pháp quốc tế.
    Chúng tôi sẽ đề cập nội dung này trong phần tiếp theo.

Lê Phúc-Lê Bình-Thùy Vân-Thu Lan

Advertisements

Biểu cảm cho comment: [̲̅$̲̅(̲̅ιοο̲̅)̲̅$̲̅] ≧▽≦ (─‿‿─) ✿◕ ‿ ◕✿ ❀◕ ‿ ◕❀ (ノಠ益ಠ)ノ (◡‿◡✿)  (✿◠‿◠) ≥^.^≤  (>‿◠)✌ ٩(●̮̮̃•)۶ ≧◠◡◠≦✌  ≧'◡'≦  ≧◔◡◔≦  ≧◉◡◉≦ ≧✯◡✯≦  ≧❂◡❂≦  ≧^◡^≦  ≧°◡°≦ ᵔᴥᵔ  (°⌣°)  ٩(^‿^)۶ ٩(͡๏̮͡๏)۶ (>‿♥)  ♥‿♥ (▰˘◡˘▰)  ಠ_ృ ಥ_ಥ ►_◄ (╥﹏╥) ( つ﹏╰) (─‿‿─) ◤(¬‿¬)◥ (∪ ◡ ∪) ▧.▨ (*^ -^*) •(⌚_⌚)• (-’๏_๏’-) 囧

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s